top of page

Tuyên bố phá sản rồi có phải trả nợ nữa không? (Góc nhìn từ chuyên gia pháp lý)

Ảnh của tác giả: Hoang Huynh Duc Thai Lam
Hoang Huynh Duc Thai Lam
29 thg 8
5 phút đọc
Khi rơi vào tình trạng khủng hoảng tài chính trầm trọng, nhiều người thường đặt câu hỏi: "Tuyên bố phá sản rồi có phải trả nợ nữa không?". Dưới góc độ pháp lý, câu trả lời không giống nhau cho mọi trường hợp.
Khi rơi vào tình trạng khủng hoảng tài chính trầm trọng, nhiều người thường đặt câu hỏi: "Tuyên bố phá sản rồi có phải trả nợ nữa không?". Dưới góc độ pháp lý, câu trả lời không giống nhau cho mọi trường hợp.

1. Hiểu đúng về "Tuyên bố phá sản" theo quy định mới nhất

Theo Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15, phá sản không phải là một lời tuyên bố suông. Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và đã có quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án nhân dân có thẩm quyền.  

Điểm mới đáng chú ý của Luật 2025 so với Luật Phá sản 2014 là tiêu chí xác định "mất khả năng thanh toán". Cụ thể, doanh nghiệp, hợp tác xã bị coi là mất khả năng thanh toán khi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán (thay vì 03 tháng như trước đây). Chỉ khi có phán quyết chính thức từ Tòa án, tình trạng phá sản mới phát sinh hiệu lực pháp lý.  

2. Doanh nghiệp tuyên bố phá sản rồi có phải trả nợ nữa không?  

Đối với các tổ chức kinh tế, hệ quả pháp lý của việc phá sản đối với khoản nợ sẽ được chia thành hai nhóm chính dựa trên tính chất chịu trách nhiệm tài sản của loại hình doanh nghiệp:

2.1. Nhóm chịu trách nhiệm hữu hạn (Công ty TNHH, Công ty Cổ phần)  

Theo pháp luật về doanh nghiệp, chủ sở hữu Công ty TNHH và cổ đông Công ty Cổ phần chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp. Khi Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản, tài sản của công ty sẽ được thanh lý để trả nợ.

Nếu tài sản của công ty đã chia hết mà vẫn không đủ bù đắp các khoản nợ, phần nợ còn thiếu sẽ được chấm dứt cùng với sự giải thể của pháp nhân. Các chủ sở hữu, cổ đông hoặc người quản lý không phải dùng tài sản cá nhân của mình để trả nợ thay cho công ty.  

2.2. Nhóm chịu trách nhiệm vô hạn (Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh)  

Khác với công ty TNHH hay Cổ phần, chủ Doanh nghiệp tư nhân và các thành viên hợp danh của Công ty hợp danh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với mọi nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp.

Do đó, sau khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản và thanh lý hết tài sản mà vẫn chưa trả đủ nợ, chủ doanh nghiệp tư nhân và thành viên hợp danh vẫn bắt buộc phải tiếp tục dùng tài sản cá nhân để trả nợ cho đến khi hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ. Việc doanh nghiệp phá sản không làm chấm dứt nghĩa vụ trả nợ của các cá nhân này.  

3. Thứ tự ưu tiên thanh toán tài sản khi doanh nghiệp phá sản  

Để đảm bảo quyền lợi công bằng cho các bên, việc đòi nợ không thể diễn ra tự phát. Khi có quyết định tuyên bố phá sản, tài sản còn lại của doanh nghiệp sẽ được phân chia theo một thứ tự ưu tiên nghiêm ngặt. Kế thừa các nguyên tắc trọng yếu, thứ tự thanh toán được quy định như sau:  

  1. Chi phí phá sản: Chi phí cho quá trình giải quyết thủ tục tại Tòa án.  

  2. Nghĩa vụ với người lao động: Bao gồm khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các quyền lợi khác theo hợp đồng lao động.  

  3. Khoản nợ phục hồi: Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh.  

  4. Nghĩa vụ tài chính và nợ khác: Bao gồm nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; các khoản nợ không có bảo đảm; và phần nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán.  

Chỉ trong trường hợp thanh toán đầy đủ toàn bộ các khoản nợ nêu trên mà doanh nghiệp vẫn còn dư tài sản, thì phần giá trị dôi dư đó mới thuộc về các thành viên, cổ đông hoặc chủ sở hữu doanh nghiệp.  

4. Cá nhân có được tự tuyên bố phá sản để "xóa nợ"?  

Thời gian qua, không ít cá nhân trên mạng xã hội tự quay video tuyên bố mình "phá sản", "vỡ nợ" do làm ăn thua lỗ và cho rằng mình không còn nghĩa vụ trả nợ. Đây là sự hiểu lầm nghiêm trọng về mặt pháp lý.  

  • Việt Nam không có luật phá sản cá nhân: Căn cứ theo phạm vi điều chỉnh, Luật Phục hồi, phá sản chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Cá nhân không thuộc đối tượng điều chỉnh của luật này, do đó cá nhân không thể thực hiện thủ tục tuyên bố phá sản.  

  • Trách nhiệm dân sự đến cùng: Khi cá nhân mất khả năng chi trả, quan hệ nợ nần sẽ được giải quyết theo Bộ luật Dân sự và Luật Thi hành án dân sự. Chủ nợ hoàn toàn có quyền khởi kiện ra Tòa án. Cơ quan chức năng có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản hợp pháp của người mắc nợ (nhà đất, xe cộ, tài khoản ngân hàng, v.v.) để thi hành án. Khoản nợ sẽ không tự động "bốc hơi" hay được xóa bỏ chỉ vì người vay lên tiếng tuyên bố mất khả năng thanh toán.  

5. Kết luận

Việc "tuyên bố phá sản rồi có phải trả nợ nữa không" được pháp luật Việt Nam quy định rất rạch ròi. Sự bảo vệ dưới dạng "xóa nợ" sau khi thanh lý tài sản chỉ áp dụng giới hạn cho một số pháp nhân chịu trách nhiệm hữu hạn. Còn đối với cá nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân hay thành viên hợp danh, trách nhiệm trả nợ là trách nhiệm đến cùng.  

Để giải quyết nợ nần đúng pháp luật, thay vì trốn tránh hay có những phát ngôn sai lệch về "phá sản", các cá nhân và doanh nghiệp đang rơi vào tình trạng khó khăn nên tìm đến sự tư vấn từ các tổ chức hành nghề luật sư để tiến hành các thủ tục đàm phán, giãn nợ, hoặc thực hiện thủ tục phục hồi theo quy định của Luật Phục hồi, phá sản mới nhất.  



 
 
 

Bình luận


bottom of page